Báo cáo thông tin Khoa học công nghệ của UBND tỉnh Quảng Nam đến năm 2020

UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM
 
 
 

Số: 113   /BC-UBND
 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
            
               Quảng Nam, ngày  13   tháng 8  năm 2015
 
BÁO CÁO
Thông tin về điều kiện tự nhiên,  kinh tế - xã hội, 
khoa học và công nghệ  tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015
 

    I. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM
Là một tỉnh được tái lập năm 1997 với diện tích 10.438,37 km2, dân số 1.460.164 người (năm 2013) gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện. Tuy có điểm xuất phát thấp nhưng với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân, cùng với những tiềm năng, lợi thế sẵn có, Quảng Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Nhiệm kỳ (2010 - 2015), đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân khoảng 11,5%/năm. GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 41,4 triệu đồng, vượt 6,4 triệu đồng so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XX đề ra. Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 16,4%/năm. Trong đó, thu nội địa tăng bình quân 20,4%/năm. Thu xuất nhập khẩu tăng bình quân 6,1% năm.
Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GRDP giảm từ 22,4% năm 2010 xuống còn khoảng 16%, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng từ 77,6% lên khoảng 84% vào năm 2015. Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 14,7%/năm, trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá năm 2010) tăng bình quân hơn 15,2%/năm, Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường như: Ô tô, giày da, may mặc, bia, nước giải khát, điện thương phẩm, linh kiện điện tử, xi măng,... Các ngành thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông, thương mại phát triển tốt. Giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ tăng bình quân hơn 15,3%/năm. Trong đó, dịch vụ du lịch tăng khá, doanh thu từ du lịch tăng bình quân 24,6%/năm. Tổng giá trị xuất khẩu đạt gần 2,8 tỷ USD, tăng bình quân 22%/năm.
Nông nghiệp từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với thị trường. Thực hiện dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng lớn, thủy lợi hóa đất màu, chuyển đổi giống cây trồng, con vật nuôi, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản đạt nhiều kết quả quan trọng. Giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân gần 4,8%/năm
        II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN NĂM 2020
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau:
   1. Công tác xây dựng và ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về khoa học và công nghệ
Ngày 29/01/2013, Tỉnh ủy ban hành Chương trình số 22/CTr-TU thực hiện Nghị quyết 20 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
UBND tỉnh đã ban hành 9 văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực quản lý nhà nước về KH&CN, đặc biệt tập trung triển khai thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (theo phụ lục 1đính kèm) và chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để sửa đổi hoặc thay thế cho phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
        2. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh
Trong giai đoạn 2011 - 2015, UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt để triển khai 70 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh gồm 59 đề tài và 11 nhiệm vụ hỗ trợ kinh phí từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh (theo phụ lục 2 và 3 đính kèm), tập trung nghiên cứu những vấn đề quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo 09 chương trình khoa học và công nghệ đến năm 2015, tầm nhìn 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt.
    3. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước có kinh phí Trung ương hỗ trợ
Từ năm 2011 đến năm 2015, tỉnh Quảng Nam đã được Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ triển khai 8 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia (theo phụ lục đính kèm 4)
Các dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi thực sự là cầu nối giữa khoa học và sản xuất, là sự hiện diện rõ nét của khoa học và công nghệ ở các địa bàn còn nhiều khó khăn. Từ những kết quả ban đầu của dự án, các địa phương đã từng bước triển khai nhân rộng kết quả, tạo được sức lan toả mạnh trong vùng dự án.
Các dự án thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ đã giúp xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm sâm Ngọc Linh, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý quế Trà My đã được bảo hộ; giúp cho các sản phẩm này được nhận biết rộng rãi, khẳng định được thương hiệu, tăng giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Năm 2012, Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ triển khai thực hiện Dự án khoa học công nghệ “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe khách giường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam” do Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải chủ trì thực hiện. Kinh phí từ nguồn sự nghiệp khoa học Trung ương là 38,59 tỷ đồng (tổng kinh phí dự án: 109,174 tỷ đồng).
    4. Kết quả hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2015 (theo phụ lục 5 đính kèm)  
   5. Thông tin về tiềm lực khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Nam
- Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ.
Theo thống kê đến năm 2012, trong tổng số 23.215 cán bộ, công chức, viên chức, có 14.313 người có trình độ đại học; 529 người đạt trình độ thạc sĩ; 249 người là bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa I; 20 tiến sĩ và 18 bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa II. Phần lớn trí thức có trình độ sau đại học tập trung ở lĩnh vực giáo dục và y tế.
 - Số lượng các tổ chức khoa học và công  nghệ trực thuộc tỉnh
         Trên địa bàn tỉnh có 13 tổ chức khoa học và công nghệ (9 tổ chức thuộc khu vực Nhà nước; 4 tổ chức thuộc khu vực tư nhân); 02 trường Đại học, 06 trường Cao đẳng chuyên ngành, 02 trường Cao đẳng nghề, 04 trường Trung cấp nghề và nhiều cơ sở đào tạo, dạy nghề khác.
 
     6. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu Chiến lược khoa học và công nghệ đến năm 2020:
- Giá trị TFP của địa phương: Quảng Nam đang triển khai thực hiện Đề tài “Nghiên cứu TFP trong tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam thời kỳ 1997 -2012”, dự kiến nghiệm thu vào tháng 12/2015.
- Đổi mới công nghệ, thiết bị: Hiện nay, UBND tỉnh đã phê duyệt danh mục đề tài “Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ doanh nghiệp sản xuất một số nhóm ngành kinh tế chủ lực và thực trạng quản lý công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đề xuất lộ trình đổi mới công nghệ giai đoạn 2016- 2025, tầm nhìn 2030” bắt đầu thực hiện từ năm 2015.
- Phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Thị trường khoa học và công nghệ từng bước phát triển. Năm 2011, Quảng Nam đăng cai tổ chức thành công Chợ Công nghệ và Thiết bị vùng Nam Trung bộ & Tây Nguyên (Techmart Quảng Nam 2011) với 250 đơn vị trong và ngoài nước tham gia, giới thiệu chào bán gần 1.038 công nghệ, thiết bị và giải pháp phần mềm tại gần 270 gian hàng. Có 57 hợp đồng, biên bản ghi nhớ và hàng nghìn giao dịch đã được ký kết, mua bán tại Chợ với tổng giá trị gần 356,8 tỷ đồng. Hàng năm, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ tham gia và vận động doanh nghiệp tham gia Techmart, sự kiện Kết nối cung - cầu công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ và các tỉnh tổ chức.
- Số doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ: 01 doanh nghiệp.
         - Về đầu tư ngân sách cho khoa học và công nghệ:
 Kinh phí nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ tăng đều qua các năm. Bước đầu đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở các thành phần kinh tế, các địa phương.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, ngân sách chi cho khoa học và công nghệ tỉnh là 103,165 tỷ đồng (chưa kể nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ trung ương hỗ trợ để thực hiện các đề tài, dự án cấp Nhà nước), trong đó: ngân sách chi cho hoạt động sự nghiệp khoa học và công nghệ chiếm 94%; ngân sách chi cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ chiếm 6% (theo phụ lục 6 đính kèm).
- Năm 2012, Đề án nâng cao năng lực của Trung tâm Ứng dụng và Thông tin Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đến năm 2020 đã được phê duyệt với tổng kinh phí 115,4 tỷ đồng. Đến nay, đang triển khai Dự án xây dựng cơ sở ứng dụng công nghệ sinh học với tổng mức đầu tư 7.269.090.000 đồng trong 3 năm (2014 - 2016).
      III. ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI:
Trong giai đoạn 2011 - 2014, ngành khoa học và công nghệ đã tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các chương trình, kế hoạch triển khai các chủ trương, chính sách về khoa học và công nghệ của Trung ương. Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được từng bước được đổi mới, đáp ứng yêu cầu quản lý khoa học và công nghệ địa phương.
Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ bám sát các chương trình KH&CN trọng điểm, các chương trình mục tiêu, tập trung nghiên cứu các nội dung có địa chỉ áp dụng cụ thể, có khả năng nhân rộng, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chương trình nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ có kết quả nghiên cứu khá tốt, tính ứng dụng và khả năng nhân rộng cao, phục vụ có hiệu quả cho sản xuất và đời sống, nhất là trong lĩnh vực tam nông và chương trình nông thôn mới.
Công tác quản lý công nghệ có bước chuyển biến tích cực. Tổ chức phổ biến và hướng dẫn thực hiện Luật chuyển giao công nghệ và các văn bản liên quan đến thẩm định công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ. Xây dựng Đề án khu công nghệ cao Tam Thăng, đề xuất đưa vào Quy hoạch mạng lưới các khu công nghệ cao của cả nước.
  Hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đã đi vào chiều sâu, các tổ chức, doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Việc triển khai các nhiệm vụ về xây dựng thương hiệu và quản lý phát triển các sản phẩm đặc trưng của địa phương được chú trọng thực hiện, nhằm góp phần nâng cao sức cạnh tranh và giá trị kinh tế của các sản phẩm đặc trưng, góp phần nâng cao đời sống người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và giữ gìn, phát huy giá trị các sản phẩm đặc trưng của địa phương.  Công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ đi vào nề nếp, đa số các cơ sở bức xạ chấp hành tốt việc khai báo và được cấp phép tiến hành công việc bức xạ. Hằng năm, tiến hành việc quan trắc bức xạ tại những nơi có phóng xạ dị thường trên địa bàn tỉnh.
Công tác thông tin, thống kê và quản lý công nghệ tiếp tục duy trì và phát triển.
Quản lý nhà nước trên lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phục vụ yêu cầu của tổ chức, công dân; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng luôn được quan tâm triển khai. Hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo ngày càng được quan tâm đầu tư, mở rộng. Triển khai xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại các cơ quan hành chính đã có hiệu quả thiết thực góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính tại địa phương. Phấn đấu đến hết năm 2015, 100% Sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố công bố Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với TCVN ISO 9001:2008. 
Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cấp huyện dần được củng cố và ngày càng phát triển. Bên cạnh kinh phí phân cấp của tỉnh, các địa phương đều bố trí, lồng ghép với các chương trình kinh tế - xã hội để đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ. Trong 5 năm qua, trung bình mỗi năm có khoảng 30 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp huyện triển khai nghiên cứu ứng dụng trên các lĩnh vực, đáp ứng được phần lớn các nhu cầu thực tế cần giải quyết ở mỗi địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng; bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, phát triển nghề mới và bảo vệ môi trường.
 
* Một trong những nội dung được quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ là công tác hỗ trợ doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển các sản phẩm trọng điểm có lợi thế so sánh của địa phương.
Tăng cường thông tin, hướng dẫn và hỗ trợ cho các địa phương, cơ sở trong xây dựng thương hiệu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.... Từ năm 2011 đến nay, trên toàn tỉnh có khoảng 200 nhãn hiệu thông thường, 30 nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và 02 chỉ dẫn địa lý được đăng ký xác lập quyền.
         Triển khai Đề án “Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2020”. Tổ chức khảo sát tại 35 doanh nghiệp điểm, đề xuất xây dựng hệ thống quản lý, công cụ nâng cao năng suất chất lượng tương thích với từng doanh nghiệp; tập huấn, đào tạo kỹ năng nhận thức của các doanh nghiệp về nâng cao năng suất, chất lượng, tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đã phê duyệt 20 doanh nghiệp tham gia Đề án với hình thức doanh nghiệp điển hình toàn diện để hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, các công cụ nâng cao năng suất chất lượng, hoàn thiện, đổi mới, chuyển giao công nghệ, đánh giá hợp chuẩn hợp quy…
Hỗ trợ phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh như dược liệu, cơ khí ô tô... Hỗ trợ Công ty Cổ phần Dược và Vật tư y tế Quảng Nam sản xuất thành công các mặt hàng trà túi lọc và nước uống tăng lực từ nguyên liệu Sâm Ngọc Linh và Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải triển khai  thực hiện Dự án khoa học công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe khách giường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam”. Đẩy mạnh việc thông tin, hướng dẫn, kết nối các doanh nghiệp tiếp cận với các chủ trương, chính sách hỗ trợ của quốc gia, tỉnh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; do vậy, số lượng các doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực này ngày càng tăng. Năm 2015 đã có 03 đề xuất đặt hàng nhiệm vụ thuộc Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
        IV. MỤC TIÊU TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KH&CN TÁC ĐỘNG ĐỂ PHÁT HUY THẾ MẠNH VÀ THÁO GỠ NHỮNG KHÓ KHĂN, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH
      1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội  chủ yếu giai đoạn 2016-2020 
- Tăng trưởng GRDP bình quân từ 11 - 11,5%, GRDP/người đạt 3.600 USD.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Đến năm 2020 tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 44%, dịch vụ chiếm 46% và nông nghiệp dưới 10%. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 16%/năm. Thu ngân tăng bình quân 15%/năm. Huy động vốn đàu tư toàn xã hội hàng năm tương đương 30% GRDP
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2020 đạt 65%.
- Năm 2020 đạt 95% xã miền núi phủ sóng điện thoại, 100% xã có điểm bưu điện văn hoá, 100% xã được nhận báo trong ngày; tỷ lệ sử dụng internet/dân năm 2020 là 37%.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm đạt từ 2,0 - 2,5%/năm (bằng mức chung của các tỉnh nghèo), riêng đối với các huyện nghèo giảm bình quân 3,5 - 4%/năm.
- Năm 2020, phấn đấu phủ xanh đất trống đồi núi trọc đạt 52%. Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch đạt 100% đối với đô thị và 95% đối với nông thôn; 95% bệnh viện tuyến tỉnh và huyện có hệ thống xử lý chất thải y tế.
     2. Những vấn đề khoa học và công nghệ có thể tác động để phát huy thế mạnh và tháo gỡ những khó khăn, phục vụ phát triển kinh tế xã hội
  • Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cơ chế chính sách, mô hình, giải pháp phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững; thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; các giải pháp về phát triển kinh tế tri thức; nâng cao sự đóng góp của TFP vào GDP của tỉnh.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về quản lý tài nguyên thiên nhiên, tập trung vào quản lý tổng hợp tài nguyên nước và ứng phó biến đổi khí hậu. Đánh giá, quản lý tài nguyên đất và định hướng sử dụng phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ. Ứng dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện Quảng Nam để xử lý ô nhiễm môi trường.
  • Nghiên cứu các mô hình phát triển du lịch, dịch vụ theo định hướng xanh, sinh thái, kết hợp giá trị lịch sử và văn hóa, du lịch làng nghề dựa vào cộng đồng. Nghiên cứu phục hồi, tôn tạo các di sản văn hóa thế giới Hội An, Mỹ Sơn.
 - Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học, đề xuất các cơ chế, chính sách, mô hình, giải pháp khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng một số mô hình sản xuất phù hợp với từng vùng sinh thái. Hình thành và phát triển khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Ứng dụng có hiệu quả công nghệ sinh học trong bảo tồn, lai tạo, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, nâng cao trình độ thâm canh, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp. Đưa công nghệ mới vào bảo quản, chế biến nông sản. Quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi giá trị.
- Nghiên cứu bảo tồn, phát triển vùng nguyên liệu dược liệu; ứng dụng công nghệ bào chế, sản xuất từ dược liệu quý của tỉnh như sâm Ngọc Linh, quế Trà My, sa nhân, ba kích, đẳng sâm…  
- Ứng dụng và phát triển công nghệ cao (công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…) vào một số lĩnh vực chủ yếu. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin  trong mọi lĩnh vực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
- Nghiên cứu các ứng dụng thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Trong đó ưu tiên các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất ô tô, sản xuất linh kiện điện tử, dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản.
  • Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, cải tiến công nghệ, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.
        VI. NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ:
1. Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ sớm cấp Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý Ngọc Linh cho sản phẩm Sâm Quảng Nam.
2. Quan tâm hỗ trợ Quảng Nam thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã đề xuất đặt hàng gồm 06 đề tài, dự án (theo phụ lục 7 đính kèm). Trong đó, Ưu tiên trước đối với Dự án nhân giống, di thực, canh tác và sản xuất một số sản phẩm sâm Ngọc Linh và Nghiên cứu xây dựng vùng sâm gốc sâm Ngọc Linh. Đây là cây dược liệu quý được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh mục các chương trình dự án trọng điểm ”phát triển cây sâm Ngọc Linh trở thành cây đặc sản quốc gia”.
3. Quan tâm cân đối tăng ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ nhằm tạo sự chuyển biến trong công tác quản lý, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (Do yêu cầu tăng về số lượng, mức đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BKHCN-BTC và đẩy mạnh, mở rộng công tác quản lý khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, thông tin, thống kê khoa học và công nghệ...).
4. Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 317/QĐ-TTg ngày 15/3/2012 phê duyệt Đề án nâng cao năng lực của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện tại địa phương, nguồn vốn không đảm bảo theo Đề án đã phê duyệt.
Kính đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thông báo cụ thể về danh mục đầu tư từ nguồn khoa học và công nghệ trong phân bổ dự toán kế hoạch ngân sách hàng năm để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.
     5. Kính đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất chủ trương hỗ trợ thực hiện các đề tài, dự án thuộc nhiệm vụ khoa học cấp Quốc gia và nhiệm vụ bảo tồn gen cấp Nhà nước, gồm:
- Dự án KHCN: “Phòng thí nghiệm công nghiệp ô tô miền Trung tại Khu phức hợp ô tô Chu Lai Trường Hải”.
- Đề tài KHCN: “Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển nông nghiệp, thủy sản, du lịch, đô thị và phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai”.
         - Đề tài KHCN: Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng, tư liệu hóa nguồn gen, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học về thuỷ sinh vật biển của tỉnh; xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án bảo tồn một số nguồn gen quý, bản địa, đặc hữu của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An và khu vực Mũi An Hòa - Núi Thành (Tôm hùm, bào ngư, trai tai tượng, trai ngọc môi đen, vú nàng, vú sao, cua đá…).
Đây là các đề tài có tầm quan trọng và tính cấp thiết, tác động to lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương.
Trên đây là báo cáo thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 - 2015, kính đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ quan tâm hỗ trợ để nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác quản lý, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh./.
 
                                                                                                                                                                                     
 
Nơi nhận:
- Bộ KH&CN;
- Vụ KH&CN ĐP - Bộ KHCN;
- TT UBND tỉnh;
- Các Sở: KH&CN, TC, KH&ĐT;
- Lưu VT,VX.
D:\Thanh a 2015\KHCN\BC NDung
 lam viec voi Bo KHCN - rut gon.doc
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
 KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Đã ký

 
 
 
 
 
Lê Văn Thanh
   
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây